27/06/2026
Theo Khoản 1 Điều 59 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp trong một số trường hợp sau:
Đây là trường hợp phổ biến nhất. Nếu người nộp thuế không nộp đầy đủ số tiền thuế đúng thời hạn theo quy định, thời gian được gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan thuế hoặc theo quyết định ấn định thuế thì sẽ phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền còn thiếu.
Trong quá trình kê khai, nếu doanh nghiệp tự phát hiện sai sót và khai bổ sung dẫn đến số thuế phải nộp tăng lên, hoặc cơ quan thuế qua thanh tra, kiểm tra xác định doanh nghiệp còn thiếu số thuế phải nộp, thì doanh nghiệp phải nộp tiền chậm nộp đối với phần thuế tăng thêm.

Tiền chậm nộp được tính từ ngày tiếp theo sau ngày hết thời hạn nộp thuế của kỳ kê khai ban đầu cho đến ngày doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế.
Trường hợp doanh nghiệp khai bổ sung làm giảm số thuế đã được hoàn hoặc cơ quan thuế xác định số tiền hoàn thuế thực tế thấp hơn số tiền đã hoàn trước đó, doanh nghiệp phải hoàn trả phần thuế chênh lệch và đồng thời nộp tiền chậm nộp đối với số tiền phải thu hồi.
Thời gian tính tiền chậm nộp được xác định kể từ ngày doanh nghiệp nhận khoản tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước.
Trong một số trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp được cơ quan có thẩm quyền cho phép nộp dần tiền thuế còn nợ theo quy định tại Khoản 5 Điều 124 Luật Quản lý thuế năm 2019. Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện việc nộp dần, doanh nghiệp vẫn phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế chưa thanh toán theo quy định của pháp luật.
Trường hợp doanh nghiệp không còn bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế do đã hết thời hiệu xử phạt nhưng qua kiểm tra, cơ quan thuế xác định vẫn còn số tiền thuế thiếu phải truy thu thì doanh nghiệp vẫn phải nộp đủ số tiền thuế còn thiếu và tiền chậm nộp theo quy định.

Đối với một số hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 142 Luật Quản lý thuế năm 2019, người nộp thuế có thể không bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền chậm nộp nếu phát sinh số thuế còn thiếu.
Không chỉ người nộp thuế, các tổ chức hoặc cơ quan được cơ quan thuế ủy nhiệm thu thuế cũng có trách nhiệm chuyển kịp thời số tiền thuế, tiền phạt và tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước. Nếu việc chuyển tiền bị chậm so với thời hạn quy định thì đơn vị được ủy nhiệm cũng phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chuyển chậm.
Theo Khoản 2 Điều 59 Luật Quản lý thuế năm 2019, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 7 Điều 6 Luật số 56/2024/QH15, người nộp thuế chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước sẽ phải nộp tiền chậm nộp theo quy định.
Tiền chậm nộp được tính liên tục kể từ ngày tiếp theo sau ngày hết thời hạn nộp thuế, hết thời gian được gia hạn nộp thuế hoặc hết thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan thuế cho đến ngày liền kề trước ngày người nộp thuế thực hiện nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp càng chậm nộp thuế thì số tiền chậm nộp càng tăng theo số ngày quá hạn.

Theo quy định hiện hành, tiền chậm nộp được xác định theo công thức:
Tiền chậm nộp = Số tiền thuế chậm nộp × 0,03% × Số ngày chậm nộp
Trong đó:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thời hạn nộp thuế và phí được quy định khác nhau đối với từng sắc thuế. Doanh nghiệp cần nắm rõ các mốc thời gian này để thực hiện đúng nghĩa vụ thuế và tránh phát sinh tiền chậm nộp.
Thời hạn nộp thuế GTGT và thuế TNCN được xác định theo kỳ kê khai của doanh nghiệp, cụ thể:
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp cần lưu ý hai mốc thời gian quan trọng:
Tạm nộp thuế theo quý: Chậm nhất vào ngày 30 của tháng đầu quý tiếp theo.
Quyết toán thuế năm: Đối với doanh nghiệp có năm tài chính kết thúc vào ngày 31/12, thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế và số thuế còn phải nộp (nếu có) là ngày cuối cùng của tháng thứ ba kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính.

Đối với doanh nghiệp mới thành lập, thời hạn nộp lệ phí môn bài là ngày 30/01 của năm liền kề năm thành lập.
Trường hợp doanh nghiệp được chuyển đổi từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp sẽ được miễn lệ phí môn bài trong 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Sau thời gian miễn, nếu thời điểm kết thúc miễn lệ phí rơi vào 6 tháng đầu năm thì thời hạn nộp chậm nhất là ngày 30/7 của năm đó. Nếu thời gian miễn kết thúc vào 6 tháng cuối năm thì thời hạn nộp sẽ là ngày 30/01 của năm liền kề.
Đối với các loại thuế như thuế tài nguyên, thuế đối với dầu thô hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh từ hoạt động xuất bán dầu thô, thời hạn nộp thuế được thực hiện theo quy định riêng. Chẳng hạn, thời hạn nộp đối với dầu thô là 35 ngày kể từ ngày xuất bán đối với dầu thô tiêu thụ trong nước hoặc kể từ ngày thông quan đối với dầu thô xuất khẩu.
Doanh nghiệp có thể tham khảo thêm quy định tại Điều 55 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và các văn bản hướng dẫn liên quan để xác định chính xác thời hạn nộp đối với từng loại thuế.
Lưu ý: Theo Điều 86 Thông tư 80/2021/TT-BTC, nếu thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp tiền thuế trùng vào ngày nghỉ theo quy định thì thời hạn sẽ được chuyển sang ngày làm việc tiếp theo.
Theo Điều 57 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, khi người nộp thuế thực hiện thanh toán các khoản nợ thuế, việc phân bổ số tiền nộp sẽ được thực hiện theo thứ tự ưu tiên nhất định. Quy định này giúp đảm bảo việc thu nộp ngân sách được thực hiện thống nhất và đúng trình tự.
Cụ thể, các khoản nợ thuế sẽ được ưu tiên thanh toán theo thứ tự sau:
Các khoản nợ thuế quá hạn thuộc diện bị cưỡng chế: Đây là nhóm khoản nợ được ưu tiên thanh toán trước. Những khoản nợ đã quá thời hạn nộp và thuộc đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật sẽ được xử lý trước các khoản nợ khác.
Các khoản nợ thuế quá hạn nhưng chưa thuộc diện cưỡng chế: Sau khi đã thanh toán các khoản nợ thuộc diện cưỡng chế, số tiền còn lại sẽ được dùng để thanh toán các khoản thuế đã quá hạn nhưng chưa đến mức áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Cuối cùng là các khoản thuế mới phát sinh chưa quá hạn hoặc chưa thuộc hai nhóm nêu trên. Đối với từng khoản nợ thuế, việc thanh toán cũng được thực hiện theo một thứ tự cụ thể, bao gồm:
Như vậy, các khoản nợ phát sinh trước sẽ được ưu tiên thanh toán trước các khoản phát sinh sau. Đồng thời, khoản nợ thuộc diện cưỡng chế sẽ được ưu tiên trước khoản nợ chưa bị cưỡng chế. Trong mỗi khoản nợ, doanh nghiệp sẽ thanh toán tiền thuế trước, tiếp đến là tiền phạt và cuối cùng là tiền chậm nộp.

Mặc dù tiền chậm nộp được xếp ở thứ tự thanh toán sau cùng, doanh nghiệp không nên vì vậy mà chủ quan. Nếu để khoản tiền này kéo dài, số tiền chậm nộp sẽ tiếp tục phát sinh theo từng ngày và có thể dẫn đến việc khoản nợ thuế chuyển sang diện bị cưỡng chế. Khi đó, doanh nghiệp có nguy cơ phải đối mặt với nhiều biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật, đồng thời ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Vì vậy, doanh nghiệp nên chủ động theo dõi các khoản thuế phải nộp, xây dựng kế hoạch tài chính phù hợp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đúng thời hạn để hạn chế tối đa các rủi ro phát sinh.
Theo quy định của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, không phải mọi trường hợp chậm nộp thuế đều bị tính tiền chậm nộp. Trong một số trường hợp đặc biệt, người nộp thuế sẽ không bị tính hoặc được miễn khoản tiền này theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước: Doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, bao gồm cả nhà thầu phụ được chủ đầu tư thanh toán trực tiếp nhưng chưa được thanh toán, sẽ không bị tính tiền chậm nộp đối với số thuế còn nợ tương ứng. Tuy nhiên, số tiền không tính chậm nộp không vượt quá khoản ngân sách nhà nước còn nợ doanh nghiệp.
Hàng hóa phải chờ xác định nghĩa vụ thuế: Đối với hàng hóa phải phân tích, giám định, chưa có giá chính thức hoặc chưa xác định được trị giá hải quan theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 55 Luật Quản lý thuế, người nộp thuế sẽ không bị tính tiền chậm nộp trong thời gian chờ xác định nghĩa vụ thuế.
Khoản nợ thuế được khoanh nợ: Các khoản nợ thuế thuộc diện được khoanh nợ theo Điều 83 Luật Quản lý thuế sẽ chưa bị tính tiền chậm nộp trong thời gian được khoanh nợ.
Khai bổ sung làm giảm số thuế phải nộp: Nếu người nộp thuế khai bổ sung hoặc cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp giảm thì số tiền chậm nộp đã tính cũng sẽ được điều chỉnh giảm tương ứng.

Người nộp thuế được miễn tiền chậm nộp nếu việc chậm thực hiện nghĩa vụ thuế xuất phát từ sự kiện bất khả kháng theo khoản 27 Điều 3 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, chiến tranh hoặc các sự kiện khách quan khác ngoài khả năng kiểm soát.
Cụ thể có các trường hợp bất khả kháng như sau:
Các quy định về thuế thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, đòi hỏi doanh nghiệp phải cập nhật kịp thời để tránh những sai sót trong quá trình kê khai và nộp thuế. Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán và tư vấn thuế, Kế toán Thuế Khôi Nguyên cung cấp các giải pháp hỗ trợ toàn diện như:
.jpg)
Đội ngũ chuyên viên của Khôi Nguyên luôn đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc xây dựng hệ thống kế toán minh bạch, tuân thủ đúng quy định pháp luật và hạn chế tối đa các rủi ro về thuế.
Nếu doanh nghiệp của bạn cần tư vấn về kê khai, quyết toán thuế hoặc sử dụng dịch vụ kế toán thuế trọn gói, Khôi Nguyên luôn sẵn sàng đồng hành, giúp doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định pháp luật, hạn chế rủi ro và phát triển bền vững.